Hotline:0973 097 308

Đặc sản trái cây miền Bắc

Miền bắc với nhiều loại trái cây thơm ngon, mới lạ nức tiếng bạn bè gần xa.

Trái cây thơm ngon đặc sản đặc trưng cho mỗi vùng miền

Nội thất Greenhome - đơn vị thiết kế nội thất chuyên nghiệp hàng đầu Hà Nội

Nội thất giá rẻ

Thiết kế nội thất nhà ở càng ngày càng được nhiều gia đình quan tâm và chú trọng để ngôi nhà của mình thêm đẹp và lộng lẫy hơn.

Pages

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Kỹ thuật trồng thanh long đúng mùa



I. GIỐNG TRỒNG: Thanh long ở Việt Nam có ba giống: dạng quả tròn, quả dài, quả chôm chôm (quả nhỏ). Dạng quả tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, nhất là chế độ ánh sáng và chế độ chăm sóc. Thanh long Việt Nam là loại thanh long ruột trắng, giống thuần do nhân vô tính bằng hom. Có hai giống ruột đỏ và ruột vàng, hiện đang trồng và theo dõi, sức sinh trưởng của hai giống mới nhập yếu hơn. Giống ruột đỏ và ruột vàng có quả nhỏ hơn và vỏ dày hơn.


II. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT
1. Chuẩn bị đất:


-  Đất cao: hầu hết các chân đất đều được khai thác trồng thanh long như đất rừng, đất thổ cư, các khu vườn tạp. Phần lớn là đất xám bạc màu, nhiều cát. Có nơi khai thác tới sát chân núi. Công việc chuẩn bị đất tương đối đơn giản: cắm cọc, đào lỗ xuống trụ. Sau khi chôn xong trụ thì đào âm quanh trụ sâu độ 10 - 20 cm, đường kính 1,5 m, bón lót phân chuồng rồi phủ lớp đất mặt lên sau đó đặt hom.


- Đất thấp: trên các liếp đất phèn trồng dứa và mía trước đây tu bổ lại liếp, chiều cao mặt liếp so với mặt nước trong mương độ 40 cm, để đề phòng trong mùa mưa nước có thể dâng cao ngang mặt liếp nhất là ở những nơi thấp thì cần phải làm thêm mực trước khi xuống giống. Hễ bị ngập nước một vài tuần nhánh thanh long sẽ vàng, khi nước rút phải bón phân để cây phục hồi lại nhưng như vậy năng suất sẽ không cao.


Đất cần phải được cày bừa kỹ trong mùa nắng, phơi đất, trừ cỏ dại. Cày bừa, làm cỏ không kỹ sau này chi phí trừ cỏ sẽ rất cao, cỏ nguy hiểm trên đất phèn là: cỏ tranh, cỏ ống, cỏ sâu rọm,...


2. Mật độ - khoảng cách và bố trí cây trồng:  trên liếp thanh long trồng xen dứa, hoặc các loại rau như ớt, dưa hấu, cà, xen các loại rau như rau muống, cải, ... dưới mương nuôi cá.

Nên trồng thanh long ở mật độ từ 700 - 1.000 trụ/ha ứng với khoảng cách khoảng 3 m x 3 m. Thanh long là cây cần nhiều ánh nắng nên hễ trồng dầy thì quả nhỏ, bán không được giá.


3. Chuẩn bị cây trụ

Cây thanh long cần bám vào cây trụ nên việc chọn lựa trụ và chuẩn bị là công việc người lập vườn thanh long cần quan tâm trước tiên, chi phí về cây trụ chiếm tỉ lệ cao nhất trong số tiền đầu tư ban đầu. Loại gỗ được chọn thường là loại gỗ tết, chịu được nắng mưa, lâu mục. Loại được dùng nhiều là: căm xe Xylia dolabriformis Benth, cẩm Liên Xylia xylocarter Taub, Cà Chắc Pentaeme siamensis Kurs, Sao đen Hopea odorata Roxb.


Cây trụ thường được chọn có đường kính trên 25 cm, dài 2,5 - 2,7 m, sau khi chôn còn cao khoảng 2,0 m. Hiện nay, xu hướng của nông dân là hạ thấp trụ xuống, nghĩa là sau khi chôn trụ xong còn cao trung bình từ 1,6 m đến 1,8 m, còn đường kính sử dụng chỉ còn khoảng 15 cm. Nguyên nhân làm nông dân hạ thấp trụ và tận dụng cây có đường kính nhỏ là vì các loại gỗ tết hiếm và đắt, ngoài ra trụ cao khiến việc chăm sóc trở nên khó khăn hơn, tốn nhiều công hơn.


Trụ thấp có lợi:  giảm được tiền đầu tư ban đầu, cành thanh long mau lên đến đầu trụ, chăm sóc và thu hoạch dễ hơn. Qua nhiều năm cắt tỉa các cành nhánh chồng chất trên đầu trụ sẽ làm cây cao dần, việc dùng trụ thấp sẽ hãm bớt sự cao dần lên của cây. Nhưng hễ trụ thấp quá thì nhánh thanh long sẽ rũ xuống đất vừa tốn công cắt tỉa vừa ít quả do cành ngắn hơn. Việc trồng cây trụ cần tiến hành sớm, có thể trước thời vụ trồng một tháng. Sau khi lấp đất cây trụ phải thẳng đứng, không lệch ngọn. Trên đầu mỗi trụ người ta đóng một cái khung bằng gỗ, một thanh ngang hay một vòng tròn,… cho thanh long dễ bám để khi đi tới đầu trụ cành thanh long sẽ rũ đầu xuống nên trông toàn tán cây có dạng một cái dù (bay dạng hình nấm).


4. Chuẩn bị hom giống

Thanh long có thể trồng bằng hột nhưng lâu có trái. Hiện nay, chủ yếu các nhà vườn trồng bằng hom (cắm cành). Hàng năm, việc tỉa cành tạo nên nguồn hom giống dồi dào, nhưng để cành phát triển tốt thì cần chọn những cành có tiêu chuẩn sau:

- Tuổi cành trung bình từ l - 2 năm tuổi trở lên, cành non không tốt.
- Chiều dài hom tốt nhất là từ 50 cm đến 70 cm.
- Hom mập, có màu xanh đậm.
- Hom không có khuyết tật, sạch sâu bệnh.
- Các mắt mang chùm gai phải tốt, mẩy, khả năng nẩy chồi (mụt) tốt.
Sau khi chọn hom xong, hom được dựng nơi thoáng mát, trên nền đất khô ráo, trong vòng 10 - 15 ngày hom bắt đầu nhú rễ thì đem trồng.

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Cóc Thái cho năng suất cao

Cóc Thái là cây thân mộc, giống ăn quả nhiệt đới, dễ trồng, tỷ lệ ra bông đậu qua cao, cho quả liên tục quanh năm, cây ít sâu bệnh. Cây cóc Thái là cây ưa nắng, có thể trồng nơi nhiều ánh sáng hay nơi có ánh nắng một phần, cây đủ ánh nắng sẽ cho quả nhiều hơn.


Cây ra quả sau thời gian 3-5 tháng trồng. Cây cóc thái  trưởng thành cao 1,5-5m, tán 1-3m. Chính vì đặc điểm này mà cây có thể trồng chậu trong nhà phố và được rất nhiều người ưa chuộng. Quả chua và giòn, nhiều vitamin có thể ăn ngay hoặc dầm chua cay, xay lấy nước làm sinh tố. Lá cóc Thái có vị chua dùng làm rau sạch, lá cây cóc thường được dùng trong các món gỏi cuốn của dân Nam bộ, các món cuốn trứ danh sẽ không thể nổi tiếng nếu thiếu vị của lá cây này.

Cây cóc Thái có thể trồng bằng hạt sau khi ăn trái chín nhưng cây sẽ lâu cho trái. Người ta thường nhân giống bằng phương pháp chiết cành hay ghép cành sẽ cho cây giống ra hoa ra trái sau 6-8 tháng chăm sóc.
Cay Coc Thai 4

Đặc Điểm Cây Giống Cóc Thái

- Cây giống cóc thái được nhân bằng phương pháp vô tính hình thức chiết cành
- Cây giống cóc thái cao khoảng 30-35 cm,

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Cách Trồng Cây Quít Thái

1, Tiêu Chuẩn Chọn Giống: (kĩ thuật trồng quít Thái)
Chọn giống biết rõ nguồn gốc, bố mẹ có phẩm chất tốt (trái thơm ngon, màu sắc trái xanh vàng, bề mặt vỏ sần, trái hình cầu, hơi dẹp hai đầu, thịt trái màu cam, mềm, nhiều nước…), lá hình trứng màu xanh đậm, trọng lượng trung bình 250g, ít hạt.



2, Thời Vụ và Mật Độ Trồng:
Cây có múi thường được trồng vào đầu mùa mưa để đỡ công tưới, tuy nhiêm cũng có thể trồng được quanh năm nếu chủ động nguồn nước tưới. Tuỳ theo giống, đất đai, khí hậu, khoảng cách trồng có thể : 5 x 4m, 4 x 4m, 3 x 4m.
 3, Làm Đất Và Đào Hố Trồng:(kĩ thuật trồng quít Thái)
Trước khi trồng cày sâu 40 – 45cm, bừa nhỏ và phẳng, nhặt hết cỏ. Đào hố rộng 60 -80cm, sâu 60cm; - Dùng đất tốt như đất mặt ruộng, đất bãi bồi ven sông … để đắp mô. Mô có hình tròn, đường kính 0,6 – 0,8 m; cao 0,3 – 0,5 m (tùy theo điều kiện tưới tiêu của từng vùng mà đắp mô cho phù hợp). Đất đắp mô có thể trộn thêm phân hữu cơ để hạ phèn đồng thời là nguồn thức an cho vi sinh vật có lợi trong đất hoạt động, tưới nấm Trico để ngừa vàng lá thói rể doFusarium gây ra, xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng cắn phá rể non.
4, Phân Bón Lót:(kĩ thuật trồng quít Thái)
Bón phân theo lượng như sau: phân hữu cơ: 30 – 50kg + Supe lân: 250 – 300 gam + Kali: 200 – 250 gam + Vôi bột 1 kg. Trước khi trồng nên trộn tro trấu, phân chuồng hoai mục vào mô, xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng.
5, Kỹ Thuật Trồng Cây Quýt Thái:(kĩ thuật trồng quít Thái)
Tốt nhất là khi nhổ cây con từ vườn ươm đem trồng nên có bầu đất. Nếu không có đất thì phải lấy bùn nhão bọc rễ. Khi trồng, đặt cây con vào giữa hố đã được đào sẵn, bộ rễ được rải hoàn toàn dễ chịu , đắp đất xong thì hơi nhẹ tay kéo cây con lên một chút. Trồng quýt đường xong phải tưới nước, cắm cành chống đổ, phủ rơm cỏ quanh gốc để giữ độ ẩm cho đất, ngắt bớt một phần lá và cành yếu để tăng tỉ lệ sống cho cây.
6, Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Quýt Thái:
6.1 Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:(kĩ thuật trồng quít Thái)
Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh... để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.

6.2 Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:(kĩ thuật trồng quít Thái)
Khi cây hồi phục sau trồng, cắt ngọn để cây chỉ cao 30 - 40 cm, để 6-8 mầm khoẻ cách nhau 7 - 10 cm từ mầm nẩy ra từ gốc ghép. Quýt ra hoa trên cành non mới sinh nên cần đốn bỏ cành già, cành bệnh để kích thích cây ra cành mới (nên bón phân trước khi đốn).
6.3 Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Quýt Thái:(kĩ thuật trồng quít Thái)
Tùy theo đất, giống và tình trạng dinh dưỡng của cây mà quyết định lượng phân bón thích hợp, cần cung cấp đầy đủ đạm, lân, kali; bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng để cây đạt năng suất cao
- Đối với cây 1 – 2 năm tuổi:
+ Phân đạm: nên pha phân vào nước để tưới, 2 – 3 tháng tưới một lần.
+ Phân lân và kali: Bón một lần vào cuối mùa mưa.
- Đối với cây trưởng thành: chia làm 4 lần bón/năm.

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Cách trồng cam sành

1/ Chuẩn bị đất trồng:(kĩ thuật trồng cam sành)
- Khoảng cách trồng: 6m x 5m, hoặc 5m x 4m
- Kích thước hố: 40cm x 40cm x 40cm, hoặc 60 x 60 x 60 cm.

- Bón phân vào hố: Bón lót: 30 - 40 kg phân chuồng hoai mục + 0,3 – 0,5 kg lân + 0,1-0,2 kg Kali + Vôi bột 0,5 - 1 kg; thuốc sâu bột (Basudin 10H...) 0,1kg). Trộn đều lượng phân trên (không có vôi và thuốc) với lớp đất mặt và lớp đất giữa (khi đào hố để riêng). Trả lớp đất dưới xuống hố, tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng 2-3 cm. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng 10-15 ngày sau bón thuốc sâu bột trên mặt hố, dùng cuốc đảo trộn đều khoảng 15 ngày sau là trồng được. Nếu không có phân chuồng có thể sử dụng phân hữu cơ sinh học với lượng 10 – 15 kg/hố. Dùng phân xanh thì phải ủ trước 2 -3 tháng với vôi cho đến khi hoai mục.

2. Bón phân cho cam sành: (kĩ thuật trồng cam sành)
 
Tuổi cây
Phân chuồng (kg/cây)
Kg/cây
Urê
Lân
Kali
1-3
20-30
0,1-0,3
0,3-0,5
0,2
4-6
30-50
0,4-0,5
0,6-1,2
0,3
7-9
60-90
0,6-0,8
1,3-1,8
0,4
Trên 10
100
0,8-1,5
2,0
0,5

* Thời kỳ bón:
- Cây từ 1-3 tuổi:có phân chuồng + phân lân bón vào tháng 12 đến tháng 01.
Đạm urê và kali bón làm 3 lần: Lần 1: vào tháng 1-2: 30% đạm; Lần 2: vào tháng 4-5: 40% đạm + 100%kali; Lần 3: tháng 8 - 9: 30% đạm. (thời gian bón còn tùy thuộc vào khí hậu từng vùng)
- Năm thứ 4 trở đi: phân chuồng + lân + vãi sau khi thu hoạch quả (quả tháng 12 sang tháng 1). Thúc lần 1(Bón đón lộc xuân ): Khỏang từ 15/2-15/3: 40% đạm + 40% kali; + Thúc lần 2: vào tháng 4-5: 30% đạm + 30% kali; Thúc lần 3 (Bón thúc cành thu và nuôi quả ): vào tháng 6-7: 30% đạm + 30% kali.
Cách bón: Sau khi thu hoạch: bón theo vành mép tán, đào rãnh sâu 20cm, rộng 30cm. Các loại phân trộn đều cho vào rãnh lấp kín đất, tủ rơm giữ ẩm. Bón thúc vào Lần 1, lần 2 và 3: trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, với đảo sâu 4-5cm, vùi đất lấp kín, tủ rơm rác giữ ẩm.
3. Tưới nước:(kĩ thuật trồng cam sành)
Sau trồng tưới ướt đẩm đất, Sau trồng hai ngày tưới 1 lần, khi cây xanh tốt trở lại 5 - 7 ngày tưới 1 lần. thời kỳ khô hạn, ít mưa nên tưới 3 - 5 ngày 1 lần. Tưới dặm nếu nắng gắt, thoát nước kịp thời khi bị úng. Tiến hành tủ gốc cam.
4/ Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ:(kĩ thuật trồng cam sành)
- Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella ): Sâu non đục vào lá gây nên những đường ngoằn ngoèo, thường đi chung với bệnh loét gây nên. 
Tỉa cành, bón phân hợp lý, điều khiển sự ra chồi sao cho đồng loạt để hạn chế sư lây nhiễm liên tục trong năm. Phòng trừ bằng cách phun thuốc sớm ngay từ giai đoạn cây ra lộc non . Sử dụng 1 trong các loại thuốc: Phosphomidon, Dimethoate, Trigard, Abamectin và Dimilin có hiệu qủa phòng trị tốt sâu vẽ bùa. Bên cạnh các loại thuốc hóa học thì hiệu quả của dầu khoáng đối với sâu vẽ bùa cũng đã được khẳng định. 

- Sâu đục thân, cành: Sâu đục rỗng thân cành gây chảy mủ, cành chết. Sâu đùn mạt cưa ra ngoài miệng hang. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ cành bị hại nặng, chích thuốc trừ sâu vào lỗ đục (Dùng thuốc cypermap 25EC, Map permethrin 50EC…), có thể rải ít Basudin 10 H, dùng móc sắt bắt sâu.

- Nhện đỏ, nhện trắng: Có thể sử dụng thuốc hoá học khi mật số Nhện đạt 3 con thành trùng /lá hoặc trái. Sử dụng các loại thuốc đặc trị Nhện, các loại thuốc trừ Sâu gốc Cúc hoặc Lân hữu cơ kết hợp với Dầu khoáng. Ðể ngăn chặn sự bộc phát tính kháng thuốc, khi sử dụng thuốc hóa học cần luân phiên các loại thuốc có gốc hóa học khác nhau. Có thể sử dụng các loại thuốc như Comite, Trebon, Pegasus, Bi 58, Kelthane, Danitol, Ortus 5SC, Selecron 500EC/ND... (theo liều lượng khuyến cáo) và Dầu khóang DC-Tron Plus (nồng độ 0,5%)...

Bệnh Bồ hóng: Bệnh thường xuất hiện nơi râm mát, và đây là bệnh kế phát sau khi có sự hiện diện của côn trùng họ chích hút. Nấm phát triển trên bề mặt lá, cành non, tạo thành lớp dày che kín cả mặt lá, thân, trái. Hạn chế sự phát triển của nhóm côn trùng họ chích hút, bằng các loại thuốc đặc trị cho từng nhóm côn trùng chích hút ấy. Dùng máy phun nước lên tán cây rửa trôi các chất thải của côn trùng họ chích hút thải ra. Hạn chế sử dụng phân bón qua lá, nếu phun phân bón qua lá nhiều bệnh gây hại ngày càng nặng hơn. Phun thuốc trị khi bệnh nặng: Copper B 75 WP, Derosal 60 WP, Kumulus 80 DF, Champion 77 WP với nồng độ 0,2-0,5% hoặc Chlorine 0,04%, phun 7-10 ngày/lần.
5. Các biện pháp chăm sóc khác:(kĩ thuật trồng cam sành)
Thường xuyên làm sạch cỏ và trồng cây xen che phủ đất, giữ ẩm, hạn chế cỏ dại theo phương châm lấy ngắn nuôi dài (có thể trồng chuối trong 2 -3 năm đầu)
Tạo tán: đối với cây ghép được tiến hành như sau:Khi chồi mắt ghép cao 30-40 cm thì bấm ngọn tạo cành cấp 1. Khi cành cấp 1 dài 30-40 cm bấm ngọn để tạo cành cấp 2, từ các cành này mọc ra cành cấp 3. Nên để 3-4 cành cấp 1; 6-8 cành cấp 2 và 12-16 cành cấp 3 để tạo cho cây có tán hình mâm xôi, thấp cây dễ chăm sóc.
Thời kỳ nụ hoa, quả non: tỉa hoa dị hình, quả ra muộn. Thời kỳ đậu quả 1-2 tuần: phun bổ sung chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng.
6/ Chăm sóc cam sau thu hoạch:(kĩ thuật trồng cam sành)
Cam, quýt sau thu hoạch cần được chăm sóc, vệ sinh, cắt tỉa, phòng trừ sâu bệnh để cây tiếp tục phát triển và cho mùa bội thu sau.
- Tiến hành làm sạch cỏ dại, sau 25 - 30 ngày thu hoạch cắt tỉa các cành sâu bệnh, cành tược, khô héo, cành tăm hương, mọc không đúng hướng...
- Quét vôi vào gốc cây ngăn sự cư trú của sâu bệnh.
- Phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp: bón phân đầy đủ, cân đối, kịp thời, bón đúng kỹ thuật, phun thuốc đúng lúc, đúng cách.
7/ Xử lý ra hoa:(kĩ thuật trồng cam sành)
Ngưng tưới và rút nước mương (nếu có) khoảng 2-4 tuần cho đến khi cây vừa "xào lá" (lá hơi héo vào buổi chiều nhưng sáng mai không tươi lại hoàn toàn). Sau đó tưới nước đẫm lại ba ngày liền, ngày tưới hai lần. Ngày thứ tư thì tưới mỗi ngày/lần.
Sau khi tưới nước lại bộ lá tươi trở lại, pha 35ml RA HOA C.A.T + 15g F.Bo/8 lít hoặc kích phát tố hoa trái Thiên Nông 7g + 15g F.Bo/8 lít , phun sương đều tán cây và trong thân cây hai lần (5 ngày/lần) thúc ra hoa đồng loạt, sau khi cây ra đọt non tưới hai ngày/lần.
8/ Thu hái và bảo quản:(kĩ thuật trồng cam sành)
Khi quả có màu đỏ da cam và vàng lá cam 1/3 – ¼ diện tích vỏ quả thì thu hoạch, thu hoạch và ngày nắng ráo, dùng kéo cắt hạn chế rụng lá gãy cành.

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Kĩ Thuật Trồng Ổi Đài Loan Lai Lê Ngon

Ổi thích khí hậu ẩm, nếu lượng mưa hàng năm 1.500 – 4.000 mm phân bố tương đối đều thì không phải tưới. Bộ rễ của ổi thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột độ ẩm trong đất. Nếu trời hạn, mực nước ngầm thấp, ổi có khả năng phát triển


nhanh một số rễ thẳng đứng ăn sâu xuống đất tận 3 – 4 m và hơn.
Kĩ Thuật Trồng Ổi Đài Loan Lai Lê
1. Mô tả giống
* Tên:  Cây ổi (Psidium guajava)
        Họ: Đào Kim Nương - Myrtaceae

* Đặc điểm giống ổi
Cây Ổi Đài loan được bán ở đây là cây ghép cho quả sớm và chất lượng quả ngọt và ít hạt hơn so với giống đại trà.
* Đặc điểm sinh thái
Ổi thích khí hậu ẩm, nếu lượng mưa hàng năm 1.500 – 4.000 mm phân bố tương đối đều thì không phải tưới. Bộ rễ của ổi thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột độ ẩm trong đất. Nếu trời hạn, mực nước ngầm thấp, ổi có khả năng phát triển
nhanh một số rễ thẳng đứng ăn sâu xuống đất tận 3 – 4 m và hơn. Nếu mưa nhiều, mực nước dâng cao ổi đâm nhiều rễ ăn trở lại mặt đất do đó không bị ngạt. Thậm chí bị ngập hẳn vài ngày ổi cũng không chết. Có thể lợi dụng đặc điểm này chủ động điều khiển mạch nước ngầm bằng phương pháp tưới tiêu để cho rễ ăn nông ở lớp đất mặt nhiều màu mỡ.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
* Thời vụ trồng
Cây ổi có thể trồng gần như quanh năm, đặc biệt là khi trồng trong vườn, chăm sóc chu đáo. Tuy nhiên nên trồng vào mùa xuân, tháng 2, 3, hoặc khi trời có mưa, đất đủ ẩm.
* Phương thức và mật độ trồng
Cây ổi được trồng theo hàng với khoảng cách hàng cách hàng 4 - 5m. Khoảng cách giữa hai cây là 3 - 4m tương đương với 350 - 400 cây/ha.
* Làm đất, bón lót và trồng cây
- Làm đất: Đào hố với kích thước 60x60x60 cm hoặc 80x80x80cm
- Bón lót: Bón lót từ 5kg phân chuồng hoai + 1 kg supe lân + 100g ure + 100g kali hoặc 2kg phân NPK cho mỗi hố, dùng cuốc trộn đều phân với đất, lấp cho gần đầy hố. Bón phân trước khi trồng từ 30 ngày trở ra.
- Trồng cây:
+ Tiêu chuẩn cây giống: Cây ghép phải có ít nhất một đợt mầm dài từ 15cm trở lên và cây không có lộc non.
  + Khi thời tiết thuận lợi như trời dâm mát, đất đủ ẩm thì tiến hành trồng cây. Dùng dao sắc rạch bỏ túi bầu (tránh để vỡ bầu), đặt cây giống vào giữa hố, lấp đất đến qua cổ rễ và nén chặt.
  + Trồng xong cần tưới đẫm nước ngay để tránh mất nước và rễ tiếp xúc với đất được tốt.
* Chăm sóc sau trồng
- Sau khi trồng cần phủ gốc và tưới ẩm thường xuyên đến khi cây ra lá ổn định. Vùng có gió bão nên cắm cọc và buộc chặt cây để không bị lay gốc khi cây còn nhỏ.
- Khi cây lên cao được 60 - 80cm cần bấm bỏ ngọn để cây phát sinh cành bên.
- Hàng năm cần cắt tỉa những cành không cần thiết như cành vượt, cành tăm, cành sâu bệnh,… nên tỉa vào thời gian sau vụ thu hoạch quả, vào những ngày nắng.
* Bón phân hàng năm
- Năm đầu tiên bón 4 lần, mỗi lần 0,1 - 0,2kg NPK (12 - 5 - 10 - 14)/ cây bắt đầu từ sau trồng 1 tháng.
- Khi cây mang trái bón NPK (12 – 5 - 10 - 14) bón mỗi tháng 0,1 – 0,3 kg/cây đến khi quả bắt đầu chín.
- Cách bón: Khi đất ẩm chỉ cần rải đều phân trên mặt đất theo hình chiếu của tán, sau đó tưới nước để hòa tan phân. Khi trời khô hạn cần hòa tan phân trong nước để tưới hoặc rải đều phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước.
3. Phòng trừ sâu, bệnh hại
- Tháng 6, 7  ổi chín, cùi đã mềm thường bị ruồi đục quả Dacus dorsalis đến đẻ, giòi đục luỗng, quả không ăn được, tỷ lệ bị hại đôi khi đạt 70 – 80% số quả chín. Do vây phải thu hoạch kịp thời, ngay khi quả đã đạt độ chín thích hợp, nhặt những quả chín rơi vãi, đem xử lý đồng thời với những quả khác bị con ruồi này phá hại (đu đủ, cam,..)
Nhiều loại sâu bệnh miệng hút nhất là rệp sáp phá hại ổi ở vườn ít chăm sóc, phổ biến nhất là Pseudococcus Citri. Vì vậy có thể phun Sherpa 0,2-0,3%, Trebon 0,2%, hoặc bẫy bả sinh học như Vizubon,..
Phun lân hữu cơ, cacbamat để phòng trừ sâu đo, sâu kén đục lá lỗ chỗ, một số sâu róm rất to ăn lá và quả non, kiến mang rệp,…
Vườn ổi tuyệt đối không để cỏ vì có cỏ rễ ổi sẽ ăn sâu, không lợi dụng được màu mỡ trên đất mặt: bón phân kém tác dụng. Dùng Paraquat 1.000 ml trong 10 lít nước không làm bắn thuốc lên lá rất có hiệu lực, nếu không, phải dùng cuốc lưỡi mỏng và nông trừ cỏ quanh gốc.
Không được tưới phân tươi, nước đã bị ô nhiễm cho cây để chống các bệnh chết  cây; khi xuất hiện bọ nẹt, rệp, sâu ăn lá, dòi đục quả thì...;
- Phun Ridomil 0,2%, Anvil 0,2% để phòng bệnh sương mai,đốm quả; có thể phòng bệnh hại và làm cho màu sắc quả đẹp bằng cách bao quả bằng túi polyetylen hoặc các vật liệu khác.

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Sầu riêng "bén rễ" trên vùng "rốn" lũ

"Bén rễ"


Chú Thái Văn Tràng, ấp Lợi Tường, xã Mỹ Lợi A cho biết, trước đây, 1,5 ha vườn của chú trồng cam sành. Sau khi cam sành bị bệnh không trị được, chú đã chuyển sang trồng sầu riêng. Sau thời gian đầu gặp khó khăn do không nắm kỹ thuật trồng, chăm sóc, đến nay, những cây sầu riêng trong vườn của chú phát triển khá tốt. “Sầu riêng của tôi đã 6 năm tuổi, đang ra hoa rất đều. Tôi dự kiến vụ đầu tiên sẽ để trái mùa thuận sau đó mới áp dụng kỹ thuật xử lý nghịch vụ” - chú Tràng cho biết thêm. Còn anh Trần Văn Thanh, ấp Lợi Trinh thì cho biết, thấy cây sầu riêng phát triển tốt ở vùng Mỹ Lợi A, năng suất, chất lượng không thua kém vùng Cai Lậy nên anh quyết định cải tạo lại vườn để trồng chuyên canh sầu riêng giống Ri6. Anh Thanh còn cho biết thêm, không riêng gì anh mà một số hộ xung quanh cũng đã và đang chuyển đổi cây trồng kém hiệu quả sang trồng sầu riêng. Vườn sầu riêng của anh hiện đã 4 năm và đang cho trái vụ đầu tiên.

Trước đây, vùng đất xã Mỹ Lợi A được xem là“rốn” lũ của huyện Cái Bè. Người dân nơi đây chủ yếu trồng lúa. Từ khi Nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống đê bao khép kín (năm 2002), người dân địa phương bắt đầu chuyển sang trồng các loại cây ăn trái như: Cam sành, bưởi, mít, mận, ổi... Đến năm 2010, một số hộ ở các ấp Mỹ An, Lợi Tường bắt đầu đưa cây sầu riêng về trồng. Sau thời gian trồng thấy cây phát triển tốt nên người dân bắt đầu đẩy mạnh chuyển đổi sang trồng sầu riêng. Đặc biệt, 3 năm trở lại đây, cây sầu riêng phát triển khá mạnh ở xã Mỹ Lợi A. Anh Cao Tấn Ngoãn, cán bộ Nông nghiệp xã Mỹ Lợi A cho biết, hiện nay, toàn xã có khoảng 170 ha trồng sầu riêng, chủ yếu là giống Monthong và Ri6, tập trung ở các ấp Mỹ An, Lợi Tường và Lợi Trinh.

"Sốt" giá đất

Buổi đầu trồng sầu riêng, nông dân xã Mỹ Lợi A gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để xử lý các loại sâu bệnh như xì mủ, cháy lá, sâu đục thân và cải thiện chất lượng trái, họ phải thuê nhân công là những nông dân ở vùng chuyên trồng sầu riêng như: Ngũ Hiệp, Long Trung… đến hướng dẫn kỹ thuật. Sau khi thu hoạch, trừ toàn bộ chi phí, nông dân xã Mỹ Lợi A phải chia 20% lợi nhuận cho nhân công kỹ thuật.

Chính vì vậy, trong thời gian qua, để giúp nông dân nắm kỹ thuật chăm sóc cây sầu riêng, hằng năm, xã đã tổ chức nhiều cuộc tập huấn chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nông dân, đồng thời khuyến khích bà con tự nghiên cứu, học hỏi để nâng cao kỹ thuật xử lý sâu bệnh trên cây sầu riêng. “Nếu chịu thương, chịu khó, quyết tâm làm giàu, nông dân xã Mỹ Lợi A có thể trồng sầu riêng trên mảnh đất của mình với giá trị kinh tế cao” - anh Ngoãn khẳng định.
Anh Ngoãn cho biết, sầu riêng là giống cây đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc cao, nhiều nông dân ở xã Mỹ Lợi A do mới trồng, không nắm vững kỹ thuật xử lý sâu bệnh nên họ sẵn sàng bán hoặc cho mướn đất với giá cao. Thế nhưng, sau đó họ lại tiếc như trường hợp của anh Sáu Em ở ấp Mỹ Trinh cho một nông dân ở vùng Cai Lậy thuê 4.000 m2 đất trong 8 năm với giá 500 triệu đồng. Sau khi thuê đất, người thuê xử lý sầu riêng ra trái chỉ một vụ là đã thu hồi vốn. Anh Ngoãn cho biết thêm, rút kinh nghiệm những hộ đi trước nên một số hộ dân sau này đã không cho thuê nữa dù giá cao. Cụ thể, có hộ trồng 8 công sầu riêng được hơn 5 năm tuổi, nông dân ở vùng Cai Lậy đến trả giá thuê 2 tỷ đồng cho 10 năm nhưng chủ vườn không đồng ý.

Khi cây sầu riêng “bén rễ” ở vùng đất “rốn” lũ thì không chỉ giá cho thuê đất trồng sầu riêng ở xã Mỹ Lợi A lên cơn “sốt” mà giá đất nông nghiệp ở đây cũng  đang “sốt” theo. Khi thấy cây sầu riêng phát triển được ở vùng Mỹ Lợi A, đồng thời để “né” mặn, nhiều nông dân ở vùng Cai Lậy như: Ngũ Hiệp, Long Trung… đến đây mua đất, đẩy giá đất nông nghiệp ở Mỹ Lợi A tăng từ 2 đến 2,5 lần so với trước kia.

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Mãng cầu xiêm bén rễ mọc trên đất lúa

Mãng cầu xiêm không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, thích ứng với loại đất nhiễm phèn. Từ năm 2009, ông Nguyễn Văn Hai, ngụ ấp Thới An A, xã Long Vĩnh đã mạnh dạn chuyển đổi 0,5ha trồng lúa sang trồng cây mãng cầu xiêm ghép gốc bình bát. Ông học hỏi kinh nghiệm thâm canh mãng cầu xiêm qua tài liệu, qua cán bộ khuyến nông và những nông dân sản xuất - kinh doanh giỏi.


Ông Hai cho hay, khoảng cách trồng bình bát là 4,5 x 4,5m. Sau thời gian trồng 8 - 10 tháng, ông bắt đầu ghép mãng cầu xiêm lên gốc bình bát, sau 2 năm thì cho trái, chỉ để lại mỗi cây từ 3 đến 5 trái, những năm về sau mới để trái nhiều hơn. Khi cây ra trái phải quan tâm tỉa thưa, tỉa bớt trái nhỏ không có giá trị kinh tế. Đây là phương pháp hữu hiệu để kéo dài tuổi thọ của cây. Đến nay, vườn mãng cầu xiêm của ông Hai đang cho trái ổn định với giá bán từ 15.000 - 30.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí thu lợi nhuận khoảng 200 triệu đồng/năm.

Ông Nguyễn Thanh Hoàng, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Gò Công Tây cho biết, mô hình trồng cây ăn trái trên nền đất lúa cho hiệu quả kinh tế cao hơn mô hình trồng lúa từ 6,13 - 9,48 lần, trong đó mô hình trồng mãng cầu xiêm cho hiệu quả cao nhất, gấp 9,48 lần. Huyện đã tập trung chỉ đạo ưu tiên đầu tư, hỗ trợ để phát triển mãng cầu xiêm với tổng diện tích 38,06ha.
Cũng theo ông Hai, cây mãng cầu xiêm có nhiều hoa nhưng tỷ lệ đậu trái thường rất kém, nguyên nhân là do quá trình tự thụ phấn có hiện tượng "lệch pha" (nhụy cái chín trước nhụy đực chín sau) và do cấu tạo của hoa nên khó thụ phấn chéo nhờ gió hay côn trùng.

Vì vậy, để cây mãng cầu xiêm đạt năng suất cao và chất lượng trái tốt thì cần thụ phấn bổ sung cho hoa.

Kỹ sư Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Trạm Khuyến nông huyện Gò Công Tây cho biết: Thông thường thời gian lấy phấn vào chiều tối (7 - 8 giờ) và thụ phấn vào buổi sáng (8 - 9 giờ) là tốt nhất.

Chọn hoa để lấy phấn, chọn những hoa mọc ở đầu cành nhỏ hoặc hoa có kích thước nhỏ để lấy phấn vì những hoa này thường khó thụ phấn và trái dễ rụng hoặc trái không lớn. Khi hoa có 3 cánh thì có thể cắt để lấy phấn...

Bên cạnh đó, khâu bón phân cũng rất quan trọng; đặc biệt là giai đoạn đậu trái và phát triển trái. Phân hữu cơ rất cần thiết cho cây mãng cầu xiêm, bình quân mỗi năm cần cung cấp từ 10 -15kg phân chuồng/cây.

Giai đoạn từ khi trồng đến cho trái áp dụng công thức sau: 40gr urê hoặc DAP + 10 lít nước/gốc (2 tháng/lần) hay phân NPK 16-16-8, 20-20-15 bón định kỳ 3 tháng/lần, mỗi lần 100 - 200gr.

Mãng cầu xiêm không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, thích ứng với loại đất nhiễm phèn
Giai đoạn đậu trái: Bón lần 1 khoảng 15 - 30 ngày sau khi đậu trái, sau đó cứ mỗi tháng bón một lần, phân NPK 17-10-17: 1 - 1,5kg/gốc nhằm cung cấp lân và kali phát triển mầm hoa. Sau thu hoạch, bón NPK có chứa nhiều đạm và lân như: NPK 18-12-8, NPK 20-20-15 hoặc NPK 16-16-8 để giúp cây phục hồi dinh dưỡng đồng thời phát triển bộ rễ mới chuẩn bị nuôi cho đợt trái tiếp theo, lượng phân gia giảm từ 0,3 - 1kg NPK/cây (tuỳ tuổi cây và tính chất tốt xấu của đất).

Để tránh đổ ngã cho cây trong mùa mưa bão, khâu tỉa cành, tạo tán được ông Nguyễn Văn Hai hết sức chú ý. Việc làm này mang lại lợi ích kép: Cây ít bị đổ ngã vừa dễ chăm sóc, thu hoạch, giảm được cành vô hiệu, giảm được sâu bệnh. Kinh nghiệm của ông trong quá trình thâm canh là chú ý phòng trị rầy, sâu đục thân, rệp sáp, bệnh thối rễ…